HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

httt

LIÊN KẾT GIÁO DỤC

TRUONG HOC KET NOI
OLYM
VIO
GTTM

LIÊN KẾT WEBSITE

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 7


Hôm nayHôm nay : 147

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 1354

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 94015

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức- Sự kiện

Sáng kiến kinh nghiệm

Thứ hai - 27/04/2015 08:36 | Số lượt đọc: 475
Đaay là SKKN mà tôi tâm đắc nhất. Nếu mọi nguười nghiên cứu kĩ rồi áp dung vào việc soạn bài chắc chắn các bạn đỡ mất thời gian hơn và chủ động trong việc lên lớp.
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC THÔNG QUA VIỆC SOẠN BÀI LÊN LỚP LẤY TRÌNH ĐỘ HỌC SINH VÀ CẤU TRÚC BÀI TẬP Ở SÁCH GIÁO KHOA LÀM CĂN CỨ
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Trong giai đoạn hiện nay phương pháp dạy học ở Tiểu học rất đa dạng và phong phú. Mỗi môn học, tiết học có tính đặc trưng riêng của nó, việc thành công của một tiết dạy thể hiện ở hiệu quả tiếp nhận kiến thức, kỹ năng của người học. Có thể đo được hiệu quả này ngay ở việc HS có hào hứng học tập hay không. Vì vậy, GV soạn bài theo kiểu này hay kiểu khác, hình thức này hay hình thức khác, độ dài hay ngắn không quan trọng mà cơ bản giáo viên phải có “bản thiết kế” khoa học, dễ nhận biết các thao tác về chuẩn kiến thức, kỹ năng, sự “gia cố” chất liệu cho bài giảng thêm sinh động. Nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng đã chứng minh thực tế là 60% chất lượng giờ dạy tốt là tùy thuộc vào khâu chuẩn bị soạn giáo án còn lại 40% là tùy thuộc vào năng lực sư phạm và kinh nghiệm của người Thầy. Từ đó, là giáo viên muốn giảng dạy tốt và chất lượng thì phải nghiêm túc trong việc biên soạn giáo án. Theo tôi, đây là một kỹ năng quan trọng của giáo viên, là kỹ thuật trí tuệ đòi hỏi giáo viên phải có tư duy khoa học, khả năng ước lượng để lựa chọn kiến thức chuẩn xác, đủ về khối lượng để giáo án không bị cháy. Để học sinh có thể nắm được kiến thức, thầy giáo cần suy tư lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với nội dung và đối tượng, phát huy được tính chủ động sáng tạo, của người học.
 Hay nói cách khác để có tiết dạy thành công trước hết giáo viên phải có bài soạn giảng thành công, bài soạn phải đáp ứng được các yêu cầu của tiết học đó là: Xác định được dạng bài, mục tiêu bài học, trình độ của lớp mình phụ trách, đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi để lựa chọn phương pháp cuối cùng cho ra bài soạn giảng với chất lượng tốt nhất.
2. Mục đích nghiên cứu:
Giáo viên cấp Tiểu học phải dạy hầu hết tất cả các môn học trong cấp Tiểu học, thời lượng lên lớp trung bình 4-5 tiết/ngày thậm chí ở nhiều trường thiếu giáo viên giáo viên phải dạy đến 6-7 tiết/ngày vì vậy thời gian giành cho việc nghiên cứu soạn giáo án rất hạn chế và ảnh hưởng đến sức khỏe của giáo viên (Dạy 2 buổi/ngày, soạn bài vào buổi đêm). Nếu không có biện pháp tối ưu trong soạn bài thì giáo viên không thể đủ thời gian và sức khỏe để soạn từ 4-6 giáo án trong một đêm để ngày mai lên lớp hoặc có chăng nữa thì giáo án không thể đảm bảo theo yêu cầu để có một tiết dạy tốt.
          Mặt khác, SGK, SGV, Thiết kế, giảm tải….. là một trong những tài liệu tham khảo để chúng ta soạn bài một tiết lên lớp đạt hiệu quả.  Trong số các tài liệu đó thì tất cả đều liên quan đến SGK vì vậy theo tôi thì dẫu sao SGK cũng là tài liệu quan trọng nhất hơn nữa SGK là nội dung cụ thể của lượng kiến thức mà học sinh cần đạt được sau một tiết học. Vì vậy, trong những năm qua tôi đã dày công nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng cho giáo viên một phương án soạn bài vừa giảm bớt thời gian, vừa đáp ứng được yêu cầu lượng kiến thức cần truyền tải đến cho học sinh trong một tiết học.
          3. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu:
Chương trình là cốt lõi của nền giáo dục còn sách giáo khoa là tài liệu pháp lí hiện thực hoá chương trình. Có thể nói rằng sách giáo khoa tham gia trực tiếp vào quá trình, hình thức tổ chức dạy học của giáo viên (GV). Qua SGK ta có thể thấy được nội dung, chương trình; đồng thời ta cũng có thể hình dung được logic hình thức tổ chức dạy học các đơn vị kiến thức.
          Việc nghiên cứu nội dung sách giáo khoa qua từng tiết học, trình độ học sinh của lớp để soạn bài lên lớp là một nhiệm vụ hết sức quan trọng.
          Cấu trúc SGK là hệ thống các bài tập, mỗi dạng bài có một kiểu sắp xếp các bài tập khác nhau nhưng đều là một chuỗi kiến thức đi từ dễ đến khó, từ cụ thể đến trìu tượng. Một tiết dạy đạt hiệu quả cao thì trước hết giáo viên phải nắm được ý đồ mục đích sắp xếp của chuỗi kiến thức trong SGK để truyền tải đến HS, sắp xếp các hoạt động phù hợp hay nói cách khác lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với từng tiết dạy.
          Mạch kiến thức ở SGK được thông qua các bài tập đáp ứng cho nhiều đối tượng học sinh (Đi từ dễ đến khó) vì vậy lựa chọn từng bài tập giao việc theo từng đối tượng học sinh trong lớp là một việc làm hết sức cần thiết đảm bảo tính giáo dục để tất cả học sinh được làm việc tùy theo mức độ nhận thức của mình một cách tối đa.
          4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.
          Nghiên cứu lượng kiến thức trình bày một tiết học trong sách giáo khoa cấp Tiểu học kết hợp với trình độ học sinh để soạn bài lên lớp.
          5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
          Nếu đề tài này được áp dụng sẽ giúp giáo viên giảm thời lượng soạn bài,  Bài soạn sát đúng với thức tế đối tượng học sinh, chủ động trong tiến trình lên lớp và tiết dạy đạt hiệu quả cao. Sử dụng cho tất cả giáo viên cấp Tiểu học, không phân biệt vùng miền.
II. PHẦN NỘI DUNG:
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA, TRÌNH ĐỘ HỌC SINH ĐỂ SOẠN BÀI LÊN LỚP ĐẠT HIỆU QUẢ
          1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Soạn bài lên lớp là một công việc hết sức quan trọng của người giáo viên, là một việc làm thường xuyên, quyết định cho sự thành bại của tiết học. Một bài soạn tốt sẽ có một tiết dạy tốt và ngược lại nếu bài soạn không tốt sẽ ảnh hưởng rất lớn của việc truyền tải các đơn vị kiến thức cho học sinh và không bao giờ có tiết dạy tốt.
          Qua việc soạn bài của giáo viên chúng ta sẽ đánh giá được chất lượng về kiến thức, kĩ năng sư phạm của giáo viên đó. Kết quả nhận thức của học sinh sau một năm học tùy thuộc vào việc giảng dạy của giáo viên mà việc giảng dạy của giáo viên tùy thuộc vào chất lượng bài soạn. Song những năm học gần đây với phong trào giáo viên sử dụng máy tính để soạn bài, số lượng bài soạn được đăng tải trên mạng rất nhiều nên việc kiểm soát quá trình soạn bài của giáo viên gặp rất nhiều khó khăn, nhiều bài soạn không phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương cũng như trình độ của học sinh nhưng giáo viên vẫn sử dụng để đối phó với các cấp quản lí. Mặt khác, nhìn vào bài soạn của giáo viên nhà quản lí sẽ nắm được trình độ nhận thức của lớp đó (Số HS giỏi, khá, TB, yếu)
          Chính từ lẽ đó, những năm học gần đây Sở giáo dục Hà Tĩnh nói chung, Phòng giáo dục Thạch Hà nói riêng đã có những văn bản chỉ đạo, những buổi chuyên đề về cách soạn bài nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh và được số đông cán bộ quản lí và giáo viên tiếp thu một cách tích cực. “Thực hiện nhiệm vụ năm học, kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giáo viên, việc triển khai áp dụng Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm  2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo một cách có hiệu quả, triển khai kế hoạch của PGD&ĐT theo công văn hướng dẫn số Số: 221/PGDĐT-CMTHV/v tổ chức tọa đàm bàn về các giải pháp  kiểm soát và nâng cao chất lượng Phòng Giáo dục Đào tạo tổ chức tọa đàm bàn về các giải pháp kiểm soát và nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường giai đoạn hiện nay”; “Hội thảo về việc kiểm soát nâng cao chất lượng ngày 09/1/2015”;
1. 2. Thực trạng:
1.2.1. Về giáo viên.
Hiện nay đại đa số giáo viên soạn bài lên lớp thường dựa vào các loại sách tham khảo, sách thiết kế thậm chí là dùng giáo án trên mạng mà không cần quan tâm đến ý đồ của SGK, trình độ học sinh hay đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi bởi vậy soạn bài thường mang tính hình thức, đối phó dẫn đến bài soạn chung chung không chỉ ra được các hoạt động cụ thể, phương pháp thiếu tính khoa học cho từng hoạt động trên lớp và thường bị động trong giảng dạy hay soạn một kiểu, dạy một kiểu làm mất tính lô gíc các phần trong bài giảng đặc biệt không đồng nhất trong soạn bài và giảng bài, Dạy học theo nhóm trình độ đối tượng sẽ không có hiệu quả, không đáp ứng được yêu cầu thực hiện các bài tập cho từng đối tượng học sinh. Mặt khác Trong thực tế, việc quản lý, duy trì nề nếp soạn bài của GV những năm qua ở nhiều trường còn lỏng lẻo, thiếu sự nhất quán. Việc soạn bài bằng viết tay đã dần dần vắng bóng, thay vào đó là soạn trên máy dùng cho nhiều năm học. Tuy nhiên, một bộ phận CBQL chuyên môn vẫn còn lúng túng trong khâu đánh giá việc soạn bài của GV. 
1.2.2. Về học sinh:
Do bài soạn của giáo viên không rõ ràng, không phân biệt được lượng kiến thức cần truyền tải cho các loại đối tượng về trình độ trong lớp dẫn đến học sinh thường phải làm hết tất cả các bài tập trong sách giáo khoa mặc dù có những bài tập quá dễ đối với những học sinh giỏi và quá khó đối với học sinh yếu dẫn đến mất thời gian và không phát triển được thêm các dạng bài đối với những đối tượng khá giỏi và ngược lại không đảm bảo việc nâng cao chất lượng đại trà cho những học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức…
 Từ lẽ đó, với vai trò là người làm công tác quản lí giáo dục ở trường học phải luôn có các giải pháp kiểm soát cụ thể để chỉ đạo hoạt động chuyên môn trường mình đi vào nền nếp trong đó có công tác quản lí soạn bài của giáo viên. Vì vậy, trong những năm học qua với vai trò là một hiệu phó phụ trách chuyên môn bản thân tôi đã nghiên cứu, thực nghiệm nên đã có kinh nghiệm nhỏ trong việc hướng dẫn giáo viên soạn bài bằng hình thức “Nâng cao hiệu quả giáo dục thông qua việc soạn bài lên lớp lấy trình độ học sinh và cấu trúc bài tập ở sách giáo khoa làm căn cứ”
Chương 2
NHỮNG ĐỀ XUẤT CỤ THỂ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA MỘT BÀI SOẠN
2.1. Tìm hiểu mục tiêu cần đạt.
Trong bất kì tiết soạn bài nào thì trước hết người giáo viên phải xác định rõ mục tiêu cần đạt được của học sinh lớp mình sau khi học xong bài học. Để xác định rõ vấn đề này thì trước hết người giáo viên phải căn cứ vào trình độ của học sinh trong lớp để phân nhóm đối tượng về trình độ của học sinh có nghĩa là dựa vào vốn kiến thức của học sinh hiện có để phát huy, phát triển lượng kiến thức cần truyền đạt.
2.2. Tìm hiểu nội dung của từng bài tập ở sách giáo khoa.
Cấu trúc một tiết học ở sách giáo khoa thường có 4-5 bài tập. Trong đó: Bài tập 1 thường là yêu cầu tất cả học sinh cần đạt được sau khi tiếp thu kiến thức giáo viên đã truyền đạt ở phần kiến thức mới; bài tập 2, 3 là bài tập củng cố kiến thức bằng cách phát triển từ bài tập 1 hoặc ngược lại để hệ thống hóa mạch kiến thức, khắc sâu để học sinh nhớ kĩ, nhớ lâu….
2.3. Xâu chuỗi (Mối quan hệ) các bài tập để từng bước đạt được mục tiêu của tiết dạy.
Giáo viên cần xâu chuỗi, tìm mối quan hệ, tính logic giữa hệ thống bài tập, câu hỏi ở phần lí thuyết với trình tự các bài tập trong phần thực hành để nắm mức độ kiến thức cần truyền tải từ đó lựa chọn phương pháp, phân bổ thời gian và điều quan trọng nhất là tiểu kết và kết nối từng hoạt động nhỏ qua từng bài tập thành một bài giảng hoàn chỉnh phù hợp với nhóm trình độ học sinh trong lớp. Từ đó, giáo viên chủ động giao bài tập cho từng nhóm đối tượng học sinh, sắp xếp thời gian hợp lí để ra các bài tập mở rộng cho nhóm đối tượng học sinh giỏi và giúp đỡ học sinh yếu.
2.4. Sắp xếp lại hệ thống các bài tập một cách phù hợp, xác định rõ các hoạt động nhỏ cho từng bài tập.
Không nhất thiết giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh làm thứ tự các bài tập theo sự sắp xếp của SGK mà có thể chủ động chuyển đổi thứ tự của các bài tập song điều quan trọng nhất là phải phù hợp với trình độ hiện có của học sinh trong lớp mình dạy và đặc biệt trong những tiết dạy luyện tập, luyện tập tổng hợp. Sau khi xác định được các hoạt động cho từng bài tập giáo viên lựa chọn các thiết bị dạy học phù hợp.
2.5.  Lựa chọn PTDH, phương pháp dạy học cho từng hoạt động phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Sau khi hoàn thiện các bước trên giáo viên lựa chọn phương pháp dạy học cho tiết dạy dựa vào các phương pháp dạy học cho từng hoạt động.
2.6. Hoàn thiện bài soạn.
Giáo viên dựa vào các bước đã nghiên cứu trên để hoàn thiện bài soạn.
2.7. Dự kiến hiệu quả đạt được sau tiết dạy để có thể điều chỉnh một số hoạt động.
Giáo viên cần dựa vào trình độ hiện có của học sinh để có thể dự kiến điều chỉnh các hoạt động trong khi lên lớp. Điều tôi muốn nói ở đây là sự phát triển kiến thức của từng học sinh dựa vào vốn kiến thức hiện có của các em để tất cả các học sinh đều phát triển so với bản thân các em.
2.8. Ví dụ các bước tiến hành để soạn một bài cụ thể.
 TUẦN 30              Thứ ba ngày 29 tháng 3 năm 2014
Toán
LUYỆN TẬP (LỚP 3)
I./ MỤC TIÊU:
100% HS Biết cộng các số có đến năm chữ số ( có nhớ ).
100% HS giải bài toán có hai phép tính, tính chu vi diện tích của hình chữ nhật.
Phân nhóm đối tượng học sinh:
Bài 1: Số học sinh thực hiện: 100%
Bài 2: Số học sinh thực hiện: 96%
Bài 3: Số học sinh thực hiện: 92%
II. CHUẨN BỊ:
         Bảng phụ.
III./ HOẠT ĐỘNG DẠY-HỌC:
Nội dung dạy – học Điều chỉnh
HĐ 1. Khởi động:
- HS làm bảng con: Đặt tính và tính: 
45931 + 36122
64152 + 27043
- GV nhận xét.
-> Chuyển: Củng cố phép cộng các số trong phạm vi 100 000 và vận dụng giải các bài toán có liên quan.
HĐ 2. Luyện tập:
Bài 1. Tính (theo mẫu):
a, - GV hướng dẫn mẫu
   63548
+ 19256
   82804
- HS làm vở nháp các bài tập còn lại:
    52379                                29107                           93959                     
+ 38421                              + 34693                        +  6041
 
- Gọi 3 HS lên bảng (Dự kiến đối tượng: 3 HS yếu)
- Nhận xét bài làm ở trên bảng. (Ưu tiên HSTB)
b, - GV hướng dẫn mẫu
   23154
                                             + 31028
  17209
   71391
- HS làm vở nháp các bài tập còn lại:
    46215                                53028                           21357                     
+    4072                             +34693                        +   4208
    19360                                 9127                                919
 
- Gọi 3 HS lên bảng (Dự kiến đối tượng: 3 HS trung bình)
- Nhận xét bài làm ở trên bảng.
=> GV gợi ý chốt: Cách đặt tính cộng, các chữ số phải đặt thẳng cột với nhau. (Ưu tiên HSTB)
-> Chuyển: Tính diện tích và chu vi của hình (BT2).
Bài 2: 1 HS đọc yêu cầu.
        Hình chữ nhật ABCD có chiều rộng bằng 3cm, chiều dài gấp đôi chiều rộng. Tính chu vi và diện tích hình chữ nhật.
- HS nêu quy tắc tính diện tích hình chữ nhật.
- HS làm vở, 1em làm ở bảng phụ (HS khá)
 - GV chữa bài
Bài giải
Chiều dài hình chữ nhật là:
3 x 2 = 6 (cm)
Chu vi hình chữ nhạt là:
(3 + 6) x 2 = 18 (cm)
Diện tích hình cũ nhật là:
3 x 6 = 18(cm2)
                      Đáp số: 18 cm; 18 cm2 .
=> GV gợi ý HS chốt (HSTB): Ghi nhớ quy tắc tính diện tích hình chữ nhật.
-> Chuyển: Chúng ta đi nêu và giải bài toán ở BT3.
Bài 3: - GV kẻ tóm tắt lên bảng.
- HS đặt đề toán:
      Con cân nặng 17kg, mẹ cân nặng gấp 3 lần con. Hỏi cả con và mẹ cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
- 1 HS làm ở bảng phụ (HS khá).  Lớp làm bài vào vở. (Giúp đỡ HS yếu và TB; Quan sát HS khá giỏi để có thể mở rộng một số bài tập nâng cao cùng dạng)
- Chữa bài ở bảng phụ.
Bài giải
Mẹ cân nặng là:
17 x 3 = 51 (kg)
Cả hai mẹ con cân nặng là:
17 + 51 = 68 (kg)
Đáp số: 68 kg.
=>GV chốt: Ghi nhớ giải bài toán có hai phép tính.
Ra thêm một số BT cho HS khá giỏi (Nếu cần).
HĐ 3:  Tổng kết tiết học:
- GV hệ thống bài và dặn dò.              
 
 
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận: Bản thân là một hiệu phó phụ trách chuyên môn, trong những năm qua tôi rất băn khoăn, trăn trở mỗi khi kiểm tra bài soạn của giáo viên đặc biệt là từ khi giáo viên soạn bài trên máy tính, công nghệ thông tin phát triển, bài soạn tràn lan trên mạng nhưng chưa được thẩm định song giáo viên vẫn tải về dùng để giảng dạy trên lớp mặc dầu bài soạn chung chung, không phù hợp với số lượng học sinh, trình độ học sinh lớp mình phụ trách, điều kiện địa phương, vùng miền… Từ lẽ đó năm học 2012-2013 tôi đã dày công nghiên cứu vấn đề kiểm soát việc sọan giảng của giáo viên. Đầu năm học 2013-2014 tôi đã quán triệt, chỉ đạo bắt đầu từ tổ trưởng, tổ phó chuyên môn soạn giảng theo hướng mà tôi đề xuất. Đến cuối kì I năm học 2013-2014 tôi nhận được phản hồi đó là:
- Chất lượng bài soạn đảm bảo dạy học phù hợp với đối tượng học sinh từng lớp.
- Giáo viên chủ động trong việc giảng dạy (Dạy đúng theo bài soạn)
- Tiết kiệm được thời gian soạn bài.
- Kết quả học tập của từng học sinh được nâng lên so với trình độ hiện có.
Từ lẽ đó, đầu học kì II năm học 2013-2014 triển khai đồng loạt cách soạn bài như tôi đề xuất đến tất cả giáo viên trong trường được mọi người đồng tình hưởng ứng. Năm học 2014-2015 giáo viên trường tôi đã chủ động, nắm vững các bước tiến hành soạn giảng một tiết học.
Mặt khác, nếu soạn bài như tôi đề xuất nhà quản lí chỉ cần thông qua bài soạn của giáo viên vẫn biết được các nhóm trình độ trong một lớp (Số % thực hiện các bài tập trong bài soạn), sự tiến bộ của mỗi học sinh (Thông qua việc dự kiến làm bài tập thể hiện trong bài soạn).
2. Kiến nghị:
- Tháng 8 đầu các năm học UBND huyện nên phân bổ số lượng giáo viên cho các nhà trường theo định biên để nhà trường có điều kiện sinh hoạt chuyên môn bàn các giải pháp kiểm soát nâng cao hiệu quả giáo dục.
- Các nhà trường cần nang cao hiệu quả sinh hoạt tổ nhhoms chuyên môn.
- Giáo viên cần tìm hiểu kĩ nội dung, ý đồ biên soạn của SGK cho từng lớp, từng chương, từng chủ điểm, từng tiết học đặc biệt là mối quan hệ (Tính logic) của sự sắp xếp trong SGK.
Trên đây, là một ý kiến đề xuất của bản thân nhằm mục đích “Nâng cao hiệu quả giáo dục thông qua việc soạn bài lên lớp lấy trình độ học sinh và các bài tập trong SGK làm căn cứ”. Tuy nhiên kinh nghiệm không tránh khỏi những thiếu sót cũng như sức thuyết phục mong các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến để kinh nghiệm ngày càng hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
-

Tác giả bài viết: Trần Trọng Tú

Nguồn tin: SKKN cấp huyện

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn